hop HDKHCN (1)

Hội nghị khoa học công nghệ năm 2017

Sáng ngày 31/3/2017 tại trụ sở văn phòng cty 278 Tôn Đức Thắng, Đống Đa, Hà Nội, Công ty Cổ phần TVTK – Kiểm định và Địa kỹ thuật (TEDI-GIC) tổ chức Hội nghị khoa học công nghệ năm 2017.
Chủ trì hội nghị Ông Nguyễn Vũ Thức – Giám đốc Công ty/ Chủ tịch Hội đồng cùng các thành viên trong hội đồng và trưởng/ phó các đơn vị trực thuộc.
Hội đồng đã tiến hành triển khai kế hoạch hoạt động công tác KHCN năm 2017, bàn và thống nhất triển khai kế hoạch tổ chức Hội thi đồ án xuất sắc – Ý tưởng sáng tạo TEDI 2017 do Tổng cty tổ chức nhằm thực hiện chương trình mục tiêu năm 2017 hướng tới kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Tổng công ty Tư vấn thiết kế Giao thông vận tải – CTCP (TEDI).
Hội đồng đã thống nhất thông qua các nội dung để triển khai thực hiện trong toàn Công ty.

 

Một số hình ảnh tại Hội nghị:

hop HDKHCN (11)

hop HDKHCN (3)

hd10

TN Nén ngang (PMT) Cầu Thanh Trì – Hà Nội

Thí nghiệm nén ngang (PMT)

(Pre-bored Pressure-meter Testing in Soils) – D4719

PHẠM VI ÁP DỤNG

Phương pháp thí nghiệm này là thí nghiệm đo áp lực đất. Thí nghiệm đo áp lực đất là một thí nghiệm ứng suất-biến dạng tại hiện trường được thực hiện trên thành của lỗ khoan bằng một máy dò hình trụ có thể mở rộng được bán kính. Để xác định các kết quả thí nghiệm chủ yếu, phải hạn chế tối đa sự xáo trộn thành hố khoan.

PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

Về cơ bản thí nghiệm đo áp lực bao gồm việc đặt một máy dò hình trụ có thể làm phồng trong một hố khoan sẵn và kéo dài máy dò này trong khi đo sự thay đổi thể tích và áp lực trong máy dò. Máy dò bị phồng lên dưới các cấp áp lực đều (Qui trình A) hoặc cấp thể tích đều (Qui trình B) và phải dừng thí nghiệm khi sự chảy dẻo trong đất trở lên lớn một cách không tương xứng. Xác định được áp lực giới hạn qui ước từ một vài số đọc cuối của thí nghiệm và tính môđun nén ngang từ số đọc và tính môđun áp lực từ số đọc thay đổi trong quá trình thí nghiệm. Điều quan trọng cơ bản là máy dò được chèn trong hố khoan có đường kính khít với đường kính của máy dò để đảm bảo khả năng thay đổi thể tích tương xứng. Nếu không thoả mãn yêu cầu này, thí nghiệm có thể bị dừng vì không đạt được đủ sự giãn nở máy dò trong đất để cho phép đánh giá áp lực giới hạn. Thiết bị này có thể hoặc là loại mà sự thay đổi thể tích của máy dò được đo trực tiếp bằng chất lỏng không chịu nén hoặc là loại mà sử dụng xúc tu để xác định sự thay đổi đường kính của máy dò. Hệ thống đo thể tích phải được bảo vệ hợp lý và được hiệu chuẩn để chống lại bất kỳ sự giảm thể tích nào trên suốt hệ thống khi xúc tu hoạt động máy dò phải đủ nhạy để đo những biến dạng tương đối nhỏ.

Ý NGHĨA VÀ SỬ DỤNG

Phương pháp thí nghiệm này đưa ra hiệu ứng về ứng suất – biến dạng của đất tại hiện trường. Một môđun áp lực và áp lực giới hạn thu được để sử dụng trong phân tích địa kỹ thuật và thiết kế móng.

Các kết quả của phương pháp thí nghiệm này phụ thuộc vào mức độ xáo trộn trong khi khoan hố khoan và chèn máy dò đo áp lực. Khi sự xáo trộn không thể loại bỏ hoàn toàn, sự diễn giải các kết quả thí nghiệm phải gồm cả sự xem xét các điều kiện trong khi khoan. Sự xáo trộn này là đặc biệt quan trọng trong đất sét rất mềm và đất cát rất lỏng. Có thể không loại bỏ được sự xáo trộn một cách hoàn toàn nhưng phải tối thiểu hoá đối với các nguyên tắc thiết kế đo áp lực trong hố khoan sẵn để có thể áp dụng được.

hd9

TN xuyên tĩnh đo áp lực nước lỗ rỗng (CPTu) tại nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 2 – Thanh Hóa

Thí nghiệm xuyên tĩnh đo áp lực nước lỗ rỗng CPTu

TCVN9846:2013 – D5778

PHẠM VI ÁP DỤNG

Phương pháp thí nghiệm này bao gồm trình tự để xác định sức kháng xuyên của mũi xuyên hình nón khi nó được ấn vào trong đất với một tốc độ chậm và đều.

Phương pháp thí nghiệm này còn để xác định sức kháng ma sát của măng sông hình trụ sau mũi xuyên khi nó được ấn vào trong đất với một tốc độ chậm và đều.

Phương pháp thí nghiệm này áp dụng đối với thiết bị xuyên tĩnh ma sát  điện.

Phương pháp thí nghiệm này có thể sử dụng để xác định sự phát triển của áp lực nước lỗ rỗng trong khi ấn dụng cụ xuyên piezocone. Sự giảm áp lực nước lỗ rỗng sau khi ấn, cũng có thể được xem như liên quan đến tính thấm và khả năng chịu nén của đất.

Các cảm biến khác như cảm biến đo nghiêng, cảm biến động đất, cảm biến nhiệt độ có thể gắn kèm với thiết bị đo xuyên để cung cấp thông tin hữu ích. Nên sử dụng cảm biến đo nghiêng bởi vì nó sẽ cung cấp thông tin tình huống phá hoại có thể xảy ra trong quá trình xuyên.

Số liệu thí nghiệm xuyên tĩnh có thể sử dụng để mô tả địa tầng phía dưới và thông qua sử dụng mối tương quan hiện trường cung cấp số liệu về đặc trưng xây dựng của đất nhằm sử dụng trong thiết kế và thi công công tác đất và móng của kết cấu.

PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

Một đầu xuyên với mũi hình nón có góc nhọn 60o và có diện tích đáy bằng 10 cm2 hoặc 15 cm2 được xuyên vào trong đất với tốc độ xuyên không đổi là 20 mm/s. Lực tại mũi xuyên yêu cầu khi xuyên vào đất được đo bằng phương pháp điện, sau mỗi lần xuyên ít nhất 50 mm. Ứng suất tính được bằng cách chia lực đo (tổng lực mũi xuyên) cho diện tích chân mũi xuyên được sức kháng mũi xuyên, qc.

Măng sông ma sát phải được lắp ngay với thiết bị đo xuyên sau mũi hình nón, và lực tác động lên phần măng sông ma sát được đo bằng phương pháp điện, sau mỗi lần xuyên ít nhất 50 mm. Ứng suất tính được bằng cách chia lực đo cho diện tích bề mặt của măng sông ma sát để xác định sức kháng măng sông ma sát, fs.

Nhiều thiết bị xuyên có khả năng xác định áp lực nước lỗ rỗng trong khi thực hiện quá trình xuyên bằng một bộ chuyển đổi áp lực điện tử gắn ở đầu xuyên. Các thiết bị xuyên này được gọi là piezocone. Piezocone được xuyên với tốc độ 20 mm/s và đọc kết quả sau mỗi lần xuyên ít nhất 50mm. Sự tiêu hao áp lực nước lỗ rỗng dư dương hoặc âm có thể kiểm tra được bằng việc ngừng xuyên, dỡ tải trên cần đẩy và ghi lại áp lực lỗ rỗng như một hàm số theo thời gian. Khi áp lực lỗ rỗng đạt hằng số thì đây chính là áp lực lỗ rỗng cân bằng hay mức áp tĩnh ứng với chiều sâu đó.

Ý NGHĨA VÀ SỬ DỤNG

Các thí nghiệm được thực hiện theo tiêu chuẩn này đưa ra kết quả chi tiết về sức kháng mũi xuyên, rất cần thiết cho việc xác định địa tầng, độ đồng nhất và chiều sâu của các lớp nhất định, lỗ rỗng hoặc hang động và các yếu tố không liên tục khác. Sử dụng măng sông ma sát và các thiết bị đo áp lực lỗ rỗng có thể cho phép đánh giá sự phân loại đất và mối liên hệ với các đặc trưng xây dựng của đất. Khi thực hiện ở hiện trường phù hợp, thí nghiệm này là một phương pháp xác định nhanh tình trạng đất nền.

Phương pháp thí nghiệm này cho kết quả để xác định đặc trưng xây dựng của đất giúp cho công tác thiết kế và thi công các công tác đất, móng công trình và sự làm việc của đất dưới tác dụng của tải trọng tĩnh và tải trọng động

hd8

TN XĐ sức chịu tải cọc khoan nhồi đường kính lớn bằng PP Nén tĩnh-Cầu Tam Bạc – Hải Phòng

Thí nghiệm XD sức chịu tải cọc – Thí nghiệm tải trọng tĩnh ép dọc trục –TCVN9393:2012 – D1143

PHẠM VI ÁP DỤNG

Tiêu chuẩn này quy định phương pháp thử nghiệm hiện trường bằng tải trọng tĩnh dọc trục áp dụng cho cọc đơn thẳng đứng, cọc đơn xiên, không phụ thuộc kích thước và phương pháp thi công (đóng, ép, khoan thả, khoan dẫn, khoan nhồi…) trong các công trình xây dựng. Tiêu chuẩn không áp dụng cho thí nghiệm cọc tre, cọc cát và trụ vật liệu rời.

PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

Nguyên tắc

Thí nghiệm được tiến hành bằng phương pháp dùng tải trọng tĩnh ép dọc trục cọc sao cho dưới tác dụng của lực ép, cọc lún sâu thêm vào đất nền. Tải trọng tác dụng lên đầu cọc được thực hiện bằng kích thủy lực với hệ phản lực là dàn chất tải, neo hoặc kết hợp cả hai. Các số liệu về tải trọng, chuyển vị, biến dạng… thu được trong quá trình thí nghiệm là cơ sơ để phân tích, đánh giá sức chịu tải và mối quan hệ tải trọng – chuyển vị của cọc trong đất nền.

Quy trình gia tải

  • Trước khi thí nghiệm chính thức, tiến hành gia tải trước nhằm kiểm tra hoạt động của thiết bị thí nghiệm và tạo tiếp xúc tốt giữa thiết bị và đầu cọc. Gia tải trước được tiến hành bằng cách tác dụng lên đầu cọc khoảng 5 % tải trọng thiết kế sau đó giảm tải về 0, theo dõi hoạt động của thiết bị thí nghiệm. Thời gian gia tải và thời gian giữ tải ở cấp 0 khoảng 10 min.
  • Thí nghiệm được thực hiện theo quy trình gia tải và giảm tải từng cấp, tính bằng phần trăm (%) của tải trọng thiết kế. Cấp tải mới chỉ được tăng hoặc giảm khi chuyển vị (độ lún) hoặc độ phục hồi đầu cọc đạt ổn định quy ước hoặc đủ thời gian quy định.
  • Quy trình gia tải tiêu chuẩn được thực hiện như sau:
  1. Gia tải từng cấp đến tải trọng thí nghiệm lớn nhất theo dự kiến như quy định …, mỗi cấp gia tải không lớn hơn 25 % tải trọng thiết kế. Cấp tải mới chỉ được tăng khi tốc độ lún đầu cọc đạt ổn định quy ước như quy định… nhưng không quá 2 h. Giữ cấp tải trọng lớn nhất cho đến khi độ lún đầu cọc đạt ổn định quy ước hoặc theo phương án thí nghiệm được duyệt;
  2. Sau khi kết thúc gia tải, nếu cọc không bị phá hoại thì tiến hành giảm tải về 0, mỗi cấp giảm tải bằng lần cấp gia tải và thời gian giữ tải mỗi cấp là 30 min, riêng cấp tải 0 có thể lâu hơn nhưng không quá 6 h.
  • Nếu có yêu cầu thí nghiệm chu kỳ thì thực hiện theo quy trình gia tải sau:
  1. Chu kì thứ nhất: Gia tải đến tải trọng quy định (thông thường đến 100 % tải trọng thiết kế), sau đó giảm tải về 0. Giá trị mỗi cấp gia tải, giảm tải và thời gian giữ tải như quy định trình gia tải tiêu chuẩn.
  2. Chu kỳ thứ hai: Gia tải lại đến cấp tải cuối của chu kì thứ nhất, thời gian giữ tải mỗi cấp là 30 min, tiếp tục gia tải đến cấp tải cuối của chu kì thứ hai, sau đó giảm tải về 0.
  3. Gia tải các chu kỳ tiếp theo được lặp lại … đến tải trọng phá hoại hoặc tải trọng lớn nhất theo dự kiến, theo nguyên tắc cấp tải cuối của chu kỳ sau lớn hơn chu kì trước đó.
  • Không phụ thuộc vào mục đích thí nghiệm, các giá trị thời gian, tải trọng và chuyển vị đầu cọc cần phải đo đạc và ghi chép ngay sau khi tăng hoặc giảm tải và theo khoảng thời gian như quy định ở Bảng 1. Có thể đo các giá trị dịch chuyển ngang của đầu cọc, chuyển dịch của hệ phản lực hoặc của dầm chuẩn khi có yêu cầu.

Bảng 1 – Thời gian theo dõi độ lún và ghi chép số liệu

Cp tải trọng Thời gian theo dõi và đọc số liệu
Cấp gia tải Không quá 10 min một lần cho 30 min đầu;

Không quá 15 min cho một lần 30 min sau đó;

Không quá 1 h một lần cho 10 h tiếp theo;

Không quá 2 h một lần cho các giờ tiếp theo.

Cấp gia tải lại và cấp giảm tải Không quá 10 min một lần cho 30 min đầu;

Không quá 15 min một lần cho 30 min sau đó;

Không quá 1 h một lần cho các giờ tiếp theo.

Sơ đồ bố trí thiết bị thí nghiệm:

1

H1: Gia tải bằng kích thủy lực, dùng dàn chất tải và đối trọng làm phản lực

2

  H2: Gia tải bằng kích thủy lực, dùng cọc neo làm phản lực

3

H3: Gia tải bằng kích thủy lực, dùng dàn chất tải và đổi trọng kết hợp cọc neo làm phản lực

4

H4: Sơ đồ bố trí hệ kích thủy lực và hệ đo đạc trong thí nghiệm nén tĩnh

hd7

TN XĐ sức chịu tải cọc khoan nhồi đường kính lớn bằng PP Biến dạng lớn PDA – Cầu Thị Cầu

Thí nghiệm thử động biến dạng lớn PDA

Đọc thêm: Thí nghiệm thử động biến dạng lớn PDA- T298 – D4945

PHẠM VI ÁP DỤNG

Tiêu chuẩn thí nghiệm này đưa ra trình tự thí nghiệm cọc đứng và cọc xiên một cách độc lập để xác định sức chịu tải của cọc khi chịu tác động của một lực va đập dọc trục bằng cách dùng búa đóng vào đầu cọc.  Tiêu chuẩn thí nghiệm này được áp dụng cho các loại móng sâu, phương thức hoạt động như là móng cọc, không xét đến cách thức thi công móng, với điều kiện là chúng có khả năng thực hiện thí nghiệm nén động chuyển vị lớn. Các cấu kiện này có thể bao gồm: cọc khoan, cọc nhỏ và cọc khoan nhồi liên tục thẳng.

PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

  • Chuẩn bị thí nghiệm: chuẩn bị đầu cọc và các chuẩn bị khác;
  • Tiến hành thí nghiệm hiện trường và Lập bảng khối lượng cọc nén động PDA;
  • Công tác xử lý số liệu ở trong phòng:

       + Kết quả thu đ­ược từ PDA và phân tích bằng phần mềm CAPWAP đối với các cọc thí nghiệm cho ta kết quả về khả năng chịu tải của cọc (Bao gồm cả hai thành phần sức kháng mũi và sức kháng thành)

       + Ngoài việc tính toán khả năng chịu tải của cọc, ch­ương trình CAPWAP cũng tính toán đ­ược đồ thị quan hệ giữa tải trọng thí nghiệm và độ lún của cọc, các biểu đồ quan hệ vận tốc, lực mô phỏng và tính toán.

  • Kết quả
  • Báo cáo kết quả hiện trường theo PP sơ bộ CASE;
  • Báo cáo kết quả phân tích bằng phần mềm CAPWAP:

+ Các biểu đồ chuẩn khi phân tích: Biểu đồ ứng suất phân tích và đo, Biểu đồ ứng suất và vận tốc đo tại hiện trường, Biểu đồ mô phỏng quan hệ chuyển vị và lực của dầu cọc và mũi cọc, biểu đồ phân bố sức kháng thành dọc theo thân cọc.

+ Các bảng biểu kết quả phân tích bằng CAPWAP: Ứng suất nén lớn nhất trên cọc, gia tốc và chuyển vị của cọc, tốc độ lan truyền của sóng biến dạng trong cọc, năng lượng truyền lớn nhất.

  • Bảng tổng hợp kết quả phân tích sức chịu tải của cọc bằng phần mềm CAPWAP bao gồm: Sức chịu tải của cọc, sức chịu tải mũi cọc, sức chịu tải thân cọc, phân bố sức chịu tải của cọc dọc theo thân cọc và các số liệu liên quan khác.

Ý NGHĨA VÀ SỬ DỤNG

Tiêu chuẩn thí nghiệm này dùng để cung cấp số liệu về chuyển vị, lực, biến đổi gia tốc, vận tốc hoặc khoảng cách của cọc dưới tác dụng của lực va đập. Số liệu này có thể dùng để đánh giá khả năng chịu tải và tính toàn khối của cọc cũng như là ứng xử của búa, ứng suất cọc và các đặc điểm động của đất như là hệ số kháng chấn của đất và giá trị dao động.

T3-3(2)

Thí nghiệm siêu âm cọc khoan nhồi

T3-3(2)

(Hình ảnh: Thí nghiệm siêu âm cọc khoan nhồi dự án Cáp treo Hòn tre – Nha Trang  – Khánh Hoà)

Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế – Kiểm định & Địa kỹ thuật là tổ chức tư vấn hàng đầu trong lĩnh vực kiểm định / giám định / kiểm tra kết cấu công trình xây dựng.  Công ty đã, đang và sẽ chú trọng bồi dưỡng nguồn nhân lực kiểm định chuyên nghiệp đồng thời với công tác trang bị các công nghệ đồng bộ – hiện đại – tinh xảo.

Công ty đã trang bị công nghệ siêu âm hiện đại CSL2 của hãng thiết bị hàng đầu thế giới Olson (Mỹ) với các tính năng hữu ích vượt trội:

  • CrossHole: Đo đồng thời hai mặt cắt (hoặc hơn).
  • SingleHole : Có thể đo chỉ trong một ống duy nhất.
  • Tomography: Phân tích trực quan trên mô hình 3 chiều.
  • Thí nghiệm được trên nhiều loại vật liệu (bê tông, đá….)…

sieu am coc khoan nhoi

(Hình ảnh: Thí nghiệm siêu âm cọc khoan nhồi các cầu trên đường cao tốc Sài Gòn – Trung Lương)